Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội
Ngày 1/8, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 625/KH-UBND về việc thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 9/5/2024 của Chính phủ; Kế hoạch số 243-KH/TU ngày 22/4/2024 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới trên địa bàn tỉnh.
Kế hoạch được ban hành nhằm quán triệt mục tiêu, yêu cầu và nội dung Nghị quyết số 42-NQ/TW, Kế hoạch số 19-KH/TW, Nghị quyết số 68/NQ-CP và Kế hoạch số 243-KH/TU; tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của các tổ chức trong hệ thống chính trị về lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và cụ thể hóa chính sách, nâng cao chất lượng chính sách theo hướng toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững.
Đồng thời cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp, xác định rõ nội dung, nhiệm vụ chủ yếu, các chỉ tiêu cụ thể, tiến độ hoàn thành; phân công, phân cấp, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện đảm bảo đồng bộ, nhất quán, có trọng tâm, trọng điểm, khả thi, hiệu quả, phù hợp với tình hình của tỉnh. Huy động và sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu, phù hợp với khả năng của địa phương, kết hợp nguồn lực trong tỉnh và ngoài tỉnh. Nâng cao hiệu quả hợp tác giữa nhà nước, tư nhân, tổ chức xã hội, cộng đồng và Nhân dân trong quản lý, phát triển xã hội bền vững phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Nghệ An.
Theo đó, phấn đấu đến năm 2030: GRDP bình quân đầu người khoảng 7.500 – 8.000 USD; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 0,5 -1,5%/năm, vùng miền núi giảm bình quân 1,5 -2,0%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 77%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 38%; bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 45 nghìn lao động, trong đó, lượng lao động tham gia làm việc cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phấn đấu đạt từ 50 -70%.
Phấn đấu lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại địa phương tham gia bảo hiểm xã hội đạt 37%, tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 24%, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 95%. Bảo đảm 100% người có công và gia đình người có công với cách mạng được chăm lo toàn diện cả vật chất và tinh thần, có mức sống từ trung bình khá trở lên so với cộng đồng dân cư nơi cư trú.
60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hàng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 90%. Xóa bỏ cơ bản tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; diện tích nhà ở đô thị bình quân đạt 28 -32m2/người…
Tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho Nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển của tỉnh. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân đạt mức cao. Các giá trị văn hóa, lịch sử và truyền thống, hệ sinh thái tự nhiên được bảo tồn và phát huy.
Để đạt được các mục tiêu trên, UBND tỉnh đã đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể gồm: Tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của chính sách xã hội. Các Sở, ban, ngành và địa phương theo chức năng, nhiệm vụ để thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý nhà nước về chính sách xã hội; thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững cho người lao động. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, không để ai bị bỏ lại phía sau. Nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ xã hội. Đẩy mạnh hợp tác và tranh thủ nguồn lực quốc tế trong thực hiện chính sách xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng trong thực hiện chính sách xã hội…
UBND tỉnh giao Sở Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm tham mưu UBND tỉnh theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Kế hoạch này.
UBND tỉnh đề nghị MTTQ tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp phối hợp chặt chẽ với cơ quan hành chính nhà nước các cấp thường xuyên lắng nghe, phản ánh, phối hợp giải quyết tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng bộ trong xã hội. Phối hợp vận động nguồn lực, khuyến khích tổ chức, cá nhân tích cực tham gia thực hiện chính sách xã hội; kiến nghị các biện pháp cần thiết với cơ quan liên quan để thực hiện hiệu quả chính sách xã hội…
Đồng thời cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp, xác định rõ nội dung, nhiệm vụ chủ yếu, các chỉ tiêu cụ thể, tiến độ hoàn thành; phân công, phân cấp, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện đảm bảo đồng bộ, nhất quán, có trọng tâm, trọng điểm, khả thi, hiệu quả, phù hợp với tình hình của tỉnh. Huy động và sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu, phù hợp với khả năng của địa phương, kết hợp nguồn lực trong tỉnh và ngoài tỉnh. Nâng cao hiệu quả hợp tác giữa nhà nước, tư nhân, tổ chức xã hội, cộng đồng và Nhân dân trong quản lý, phát triển xã hội bền vững phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Nghệ An.
Theo đó, phấn đấu đến năm 2030: GRDP bình quân đầu người khoảng 7.500 – 8.000 USD; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm bình quân 0,5 -1,5%/năm, vùng miền núi giảm bình quân 1,5 -2,0%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 77%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 38%; bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 45 nghìn lao động, trong đó, lượng lao động tham gia làm việc cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phấn đấu đạt từ 50 -70%.
Phấn đấu lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại địa phương tham gia bảo hiểm xã hội đạt 37%, tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 24%, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 95%. Bảo đảm 100% người có công và gia đình người có công với cách mạng được chăm lo toàn diện cả vật chất và tinh thần, có mức sống từ trung bình khá trở lên so với cộng đồng dân cư nơi cư trú.
60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hàng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 90%. Xóa bỏ cơ bản tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; diện tích nhà ở đô thị bình quân đạt 28 -32m2/người…
Tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho Nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển của tỉnh. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân đạt mức cao. Các giá trị văn hóa, lịch sử và truyền thống, hệ sinh thái tự nhiên được bảo tồn và phát huy.
Để đạt được các mục tiêu trên, UBND tỉnh đã đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể gồm: Tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của chính sách xã hội. Các Sở, ban, ngành và địa phương theo chức năng, nhiệm vụ để thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý nhà nước về chính sách xã hội; thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền vững cho người lao động. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, không để ai bị bỏ lại phía sau. Nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ xã hội. Đẩy mạnh hợp tác và tranh thủ nguồn lực quốc tế trong thực hiện chính sách xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng trong thực hiện chính sách xã hội…
UBND tỉnh giao Sở Lao động, Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm tham mưu UBND tỉnh theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Kế hoạch này.
UBND tỉnh đề nghị MTTQ tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp phối hợp chặt chẽ với cơ quan hành chính nhà nước các cấp thường xuyên lắng nghe, phản ánh, phối hợp giải quyết tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng bộ trong xã hội. Phối hợp vận động nguồn lực, khuyến khích tổ chức, cá nhân tích cực tham gia thực hiện chính sách xã hội; kiến nghị các biện pháp cần thiết với cơ quan liên quan để thực hiện hiệu quả chính sách xã hội…
Nguồn: PT (Tổng hợp)
Tác giả: Dung Nguyen Trong
Tags: thường vụ, tỉnh ủy, tiếp tục, trung ương, thực hiện, ban hành, nâng cao, kế hoạch, giai đoạn, yêu cầu, xây dựng, sự nghiệp, nghị quyết, xã hội, tổ quốc, bảo vệ, chấp hành
Bài viết liên quan
- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội (02/08/2024)
- Sửa đổi, bổ sung quy định về tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý (02/08/2024)
- Triển khai các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh 6 tháng cuối năm 2024 (05/08/2024)
- Quyết liệt hơn nữa với tinh thần trách nhiệm cao nhất để hoàn thành dự án đường dây 500kV mạch 3 bảo đảm hiệu quả và đúng quy định (05/08/2024)
- NGHỊ ĐỊNH SỐ 102/2024/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI (05/08/2024)
- Điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi thuộc Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc (06/08/2024)
- Điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi thuộc Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc (06/08/2024)
- Triển khai thực hiện các quy định của Luật Tài nguyên nước liên quan đến lĩnh vực sản xuất, cung cấp nước sạch (06/08/2024)
- Triển khai thực hiện Nghị quyết số 12/2024/NQ-HĐND về quy định mức chi thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh (06/08/2024)
- Triển khai thực hiện các quy định của Luật Tài nguyên nước liên quan đến lĩnh vực sản xuất, cung cấp nước sạch (06/08/2024)
- Quy định mới yêu cầu về xây dựng nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ của cá nhân (02/08/2024)
- Quy định mới về thang lương, bảng lương, phụ cấp lương với người lao động trong doanh nghiệp nhà nước (02/08/2024)
- Tiêu chí, điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa (02/08/2024)
- Rà soát việc triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng và các Nghị quyết của Bộ Chính trị (02/08/2024)
- Hướng dẫn định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực lưu trữ (01/08/2024)
- Bộ Chính trị quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong xây dựng pháp luật (01/08/2024)
- Chương trình “Sắc Xuân miền Tây Nghệ An” năm 2025 dự kiến được tổ chức ngày 18-19/01/2025 tại thị trấn Mường Xén, huyện Kỳ Sơn (01/08/2024)
- Triển khai thực hiện Nghị quyết tại Kỳ hợp thứ 7, Quốc hội khóa XV (01/08/2024)
- Đẩy mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành Luật Đấu thầu (01/08/2024)
- NGHỊ ĐỊNH SỐ 102/2024/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI (01/08/2024)
Văn bản
Số kí hiệu: 11/2024/TT-BVHTTDL
Ngày ban hành: 06/11/2025
Số kí hiệu: 10/2024/TT-BXD
Ngày ban hành: 01/04/2025
Số kí hiệu: 83/2025/NĐ-CP
Ngày ban hành: 01/04/2025
Số kí hiệu: 24/2024/TT-BCT
Ngày ban hành: 07/11/2024
Số kí hiệu: 77/2024/TT-BTC
Ngày ban hành: 07/11/2024
Số kí hiệu: 78/2024/TT-BTC
Ngày ban hành: 07/11/2024
Số kí hiệu: 36/VBHN-NHNN
Ngày ban hành: 06/11/2024
Số kí hiệu: 9191/VBHN-BKHĐT
Ngày ban hành: 06/11/2024
Số kí hiệu: 22/2024/TT-BCT
Ngày ban hành: 06/11/2024
Thăm dò ý kiến
Thống kê
- Đang truy cập34
- Hôm nay9,387
- Tháng hiện tại42,681
- Tổng lượt truy cập5,499,146